-
Lê Tất Điều, CẤU TRÚC CỦA VŨ TRỤ
Trong toa tàu đông chật cứng, người người đứng ngồi sát nhau, nhúc nhích cũng khó, di chuyển từ đầu toa xuống cuối toa càng vất vả, cần sự hợp tác giúp đỡ của tất cả những người xung quanh. Và cũng di chuyển từ từ thôi.Trong giọt sương hay giọt chất đen, vô lượng vi phân tử, sóng radio chen chúc, dính sát nhau, nhưng các vi phân tử đều được tự do di chuyển khắp nơi, không chậm mà cực nhanh – nhanh gần, hoặc bằng, tốc độ ánh sáng!Nghe rất nghịch lý. Nhưng hiện tượng bất thường ấy đang xảy ra khắp nơi, trong từng sát na, là một sinh hoạt bình thường của vũ trụ.Tại sao trong “toa tàu” vũ trụ đông chật cứng, đám hành khách phân tử, vi phân tử vẫn được tự do chạy tới chạy lui nhanh như chớp?Tìm tòi, suy nghĩ mãi mới thấy lời giải đáp. Nó nằm trong cái hình thể tuyệt hảo của các vi phân tử, phân tử. Hình thể chứa đựng “bí mật” của Tạo Hóa ấy không bị giấu ở chỗ kín đáo, khó tìm. Nó được rải khắp một phòng triển lãm lớn rộng bằng cả bầu trời. -
Mỗi tuần, Một khuôn mặt văn học: Bình Nguyên Lộc
TIỂU SỬ: Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sanh năm 1914 Tân Uyên, Biên Hoà, sau khi đậu tú tài phần 1, ông ra làm công chức và bắt đầu viết văn từ năm 1943. Năm 1950 ông cho ra đời truyện dài Nhốt Gió.Truyện ngắn Bình Nguyên Lộc nói về phong tục địa phương và sự giao cảm của người dân và mảnh đất họ đang cư ngụ.…Trong giai đoạn về sau Bình Nguyên Lộc có hai tác phẩm về ngôn ngữ-nhân chủng học là: Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam; Lột Trần Việt Ngữ.Các sáng tác tiêu biểu khác của ông gồm: Tân Liêu Trai; Ký Thác; Nửa Đêm Trảng Sụp; Bí Mật Của Nàng; Quán Tai Heo; Tình Đất; Nụ Cười Nước Mắt Học Trò; Những Bước Lang Thang Trên Hè Phố. ...Bình Nguyên Lộc đến Hoa Kỳ tị nạn vào năm 1985 và mất tại California vào tháng 3, 1987. -
Nguyễn Xuân Hoàng: Bình Nguyên Lộc ở rừng U Minh
Lần đầu tôi gặp nhà văn Bình Nguyên Lộc là vào năm 1972, khi tôi mới về làm thư ký toà soạn tạp chí Văn. Ông gầy ốm, mái tóc chải rẽ đường ngôi ngay chính giữa, đeo một đôi kính đen kiểu xưa và mặc bộ đồ trắng y như một công chức thời Pháp thuộc. Tác giả Đò Dọc lúc đó cho tôi thấy hình như có một tương ứng đặc biệt giữa trang phục người viết và phong cách ông viết. Trong khi Sơn Nam, tác giả Hương Rừng Cà Mau cũng không khác gì Bình Nguyên Lộc bao nhiêu, nếu không nói là có vẻ lừng khừng hơn - để lại trong tôi nhiều ấn tượng văn học về phong tục miền Nam, thì Bình Nguyên Lộc cho tôi một ấn tượng khó nói... Tôi có cảm giác Bình Nguyên Lộc gần Hồ Biểu Chánh và Vương Hồng Sển,… khó… tiếp cận hơn, trong khi Sơn Nam mặc dầu có nhân dáng còn xuề xoà hơn Bình Nguyên Lộc nhiều nhưng tôi thấy lại gần gũi hơn, mới hơn, dễ gần hơn. -
Phạm Văn Tuấn, Pearl S. Buck (1892-1973) Nữ Văn Hào Của Hai Thế Giới
Pearl S. Buck là nhà văn sinh trưởng trong hai thế giới, một thế giới là nước Hoa Kỳ của cha mẹ, hai giáo sĩ đi truyền đạo và thế giới kia là nước Trung Hoa bao la, còn bao phủ nhiều bí ẩn. Bà Buck đã từng viết rằng "… thật khó cho tôi khi nói rõ phần lớn tôi thuộc về thế giới nào…, tôi trung thành với châu Á cũng như với miền đất của tôi". -
• Câu Chuyện Văn Chương, Đặng Trần Huân: CHUYỆN CẢI CÁCH TIẾNG VIỆT
Kể từ khi tiếng Việt được hình thành tới nay biết bao nhiêu nhà ngôn ngữ học và không ngôn ngữ học đề xướng thay đổi nó. Nhiều quá kể ra không xuể.Theo Vũ Ngọc Phan những nhà văn lớp trước muốn cải cách tiếng Việt được nhiều người biết đến có lẽ là Nguyễn Trọng Thuật và Trần Trọng Kim. Với cuốn Việt Văn Tinh Nghĩa xuất bản năm 1928, Nguyễn Trọng Thuật có nhiều nhận xét về tiếng Việt thời đó và đồng thời đề nghị một số cải cách nhưng những cải cách của ông bị văn phạm Pháp ảnh hưởng khá sâu đậm. -
Lê Tất Điều, Thương giọt sương mai
Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ.Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp. -
Mỗi Tuần Một Khuôn Mặt Văn Học: Thanh Tâm Tuyền
TIỂU SỬTên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13/3/1936 tại Vinh.Bắt đầu dạy học tại trường Minh Tâm Hà Đông (1952) và đăng những truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Thanh Niên (Hà Nội), 1954, hoạt động trong Tổng Hội Sinh Viên Hà Nội, cùng Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ chủ trương nguyệt san Lửa Việt, 1955, cùng các bạn làm tuần báo Dân Chủ – tuần báo Người Việt, 1956-1960, cùng một số bạn thực hiện nguyệt san Sáng Tạo. Nhập ngũ năm 1962, giải ngũ năm 1966, tái ngũ năm 1968.Các tác phẩm chính:Thơ: Tôi Không Còn Cô Độc – Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy.Kịch: Ba Chị Em Truyện ngắn: Khuôn Mặt – Dọc Đường.TRUYỆN DÀI: BẾP LỬA – CÁT LẦY – MÙ KHƠI – TIẾNG ĐỘNG. -
Trần Ngọc Hiếu: Dịch là Khác
Những cụm từ như “Hoa ngõ hạnh”, “Trăng tỳ hải” có thể gợi liên hệ đến những vở kịch nào của William Shakespeare? Đó là câu hỏi khó đối với những ai chưa có điều kiện tìm hiểu kỹ di sản dịch thuật của Bùi Giáng. Những hình ảnh vừa mang màu sắc cổ thi, vừa ẩn mật, mơ hồ đặc trưng cho phong cách ngôn ngữ thơ của Bùi Giáng này được ông sử dụng để đặt tên cho “bản dịch” hai vở kịch của Shakespeare là Othello và Antony and Cleopatra[1]. Tại sao phải đặt từ “bản dịch” trong dấu ngoặc kép? -
Truyện Cổ Tích Khái Hưng, Cái ấm đất
Ngày xưa có một người cự phú xứ quê ốm nặng và biết mình thế nào cũng sẽ từ trần liền gọi ba con trai đến bên giường mà bảo rằng:– Cha sinh được ba con, nhờ trời cùng khỏe mạnh và nết na. Đó là sự quý báu nhất và sung sướng nhất trong đời cha. Trong đời cha, cha đã làm nhiều điều ác, nhiều sự bất công, cha xin thú thực thế trước khi nhắm mắt vĩnh biệt các con.Nhưng đối với các con thì cha chỉ có một lòng thương mến, chiều chuộng. Có lẽ cũng vì quá thương mến chiều chuộng các con, và quá nghĩ đến tương lai tốt đẹp của các con mà cha đã ác nghiệt, bất công đối với kẻ khác. -
Thơ Trần Vấn Lệ, Cảm Ơn Em Tình Yêu
Nếu không nghe em nói: Kìa Mùa Xuân Đang Về...thì trên con đường quê, không có hoa quỳ đẹp. Không em - không gì hết! Có em - Bốn Mùa Xuân! Cảm ơn em, Tình Nhân. Có thể Tình rất gần trong bàn tay mình nắm...Có thể Tình xa lắm...bây giờ anh nhớ em! Em, ai biểu là chim, con chim xanh vừa đậu. Anh tìm cọng cỏ gấu lót ổ cho em nha! Ai biểu em là hoa...hoa, kia kìa, đang nở! Mùa Xuân là nhung nhớ hơi thở đùa mây bay...Hãy ngủ đi, giấc ngày, anh hôn môi em thắm...Anh đắp mền, em ấm, thở mù sương cho anh! Em, ô! Mắt long lanh, giấu mặt trời chi vậy? Ngủ đi đừng động đậy, ngủ đi đôi mắt thương...Trong mơ, dẫu chập chờn, chúng mình bay liền cánh. Trong mơ, trời có lạnh...cây liền cành đan nhau! Hãy nghĩ tới ngày sau, cảm ơn hoài cổ tích! Hãy nhớ những lời Hịch, cuối cùng là Yêu Thương! Người ta giữ biên cương vì Tình Yêu Tổ Quốc! Người ta nén nước mắt...để tưới cỏ, em à. Mưa có thể không sa trong một thời tao loạn. Nếu đời đừng tứ tán, mưa nắng không thành Thơ! Em ơi, anh ngẩn ngơ tại-sao-mình-gặp-gỡ? Tại sao duyên kỳ ngộ thường ở vệ đường hoa? Tú Uyên, Giáng Kiều xưa...vì sao nên duyên nợ? Vườn Bích Câu hoa cỏ cơn gió đùa hiu hiu...Cảm ơn em Tình Yêu! Cảm ơn em Tình Yêu! -
Nguyên Ngữ, Chuyện hai người đàn bà Việt Mỹ
Khu apartments ba tầng lầu, trông có vẻ già nua cũ kỹ, nghe chừng như được xây dựng cùng một năm với cuộc Chiến tranh Thế giới I, dễ đâu cũng ngót nghét một thế kỷ rồi. Trong biên bản lịch sử khu nhà của phòng Địa ốc thành phố, một hôm tình cờ tôi được đọc thoáng qua từ tay chủ nhà người Tàu, thì ra từ ngày khởi thủy đến nay, khu nhà luôn một đời chủ, cha truyền con nối.Tiếng là ba tầng lầu, nhưng tầng dưới cùng bỏ hoang gần hai năm nay, sau trận cháy đêm Giao thừa Tết Con Cọp. Đêm ấy đám trẻ con người Hoa ở khu phố bên kia đường bày pháo ra dợt le với nhau. Bà lão Mỹ handicapped quản gia khu nhà đối diện, nổi tiếng hắc ám với con nít, quát tháo ỏm tỏi. Chúng kéo nhau đến tụ tập quanh góc cầu thang khu chung cư tôi ở. Đứa giỡn, đứa bày trò hôn hít. Có cả nhóm choai choai xúi dại bày trận đánh ì xèo -
MỖI TUẦN MỘT KHUÔN MẶT VĂN HỌC: Nhất Linh
Nhất Linh, tên thật là Nguyễn Tường Tam(1), sinh ngày 25 tháng 7 năm 1906, tại huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, trong một gia đình sáu trai, một gái. Trừ người anh cả Nguyễn Tường Thụy, là công chức không dính líu đến văn nghệ và chính trị, từ người anh thứ hai Nguyễn Tường Cẩm, mất tích ở gần Hà Nội, đến Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam, Tứ Ly Hoàng Ðạo – Nguyễn Tường Long, Nguyễn Thị Thế, Thạch Lam – Nguyễn Tường Lân và bác sĩ Nguyễn Tường Bách, đều là những người tham dự vào văn chương. Nguyễn Thị Thế và Nguyễn Tường Bách viết hồi ký về gia đình Nguyễn Tường; và năm anh em Nhất Linh có những đóng góp tích cực trong việc quản trị các cơ sở báo chí và nhà in của Tự Lực Văn Ðoàn. -
Truyện Abe Kobo, Phạm Đức Thân chuyển ngữ
Abe Kobo (1924-2004) sinh tại Tokyo, nhưng thời niên thiếu sống ở vùng sa mạc Mãn Châu, nên có cái nhìn hơi khác đối với hiện thực.Ông tách khỏi môi trường, không có sắc thái của tác giả Nhật, và được coi là một nhà văn "quốc tế" ; có người còn bảo tiếng Nhật không phải là phương tiện thích hợp cho ông. Truyện ông hấp dẫn ở chỗ vừa giống Kafka, vừa duy lý khoa học, vừa phi lý, vừa giả tưởng khoa học. "Maho no choku" (Viên Phấn Kỳ Diệu) dựa trên những tiền đề phi lý được mô tả chi tiết và hợp lý một cách thuyết phục, một kết hợp của kinh nghiệm học y khoa và tưởng tượng phong phú. Trong khi nhiều kỹ thuật và chủ đề có nguồn gốc từ văn chương Nhật và Tây Phương, thái độ của ông nghiêm túc tiếp cận cái phi lý khi thuật sự đã lôi cuốn độc giả khắp thế giới, -
Thơ Phan Nhật Nam, Vô vàn với chim…
Trong tình cảnh dài ngày thăm thẵm sâu chốn khốn cùng tù ngục nơi Miền Bắc từ 1976 đến 1988.. Giữa bóng tôi tầng tầng đơn độc của những hầm giam cấm cố tử hình vùng Thanh Hóa.. Hoặc sau ngày ra tù, 1989 ẩn thân ở xóm quê Bình Nhân, Lái Thiêu, và nay buổi cuối đời tại vùng sa mạc vắng vẻ Queen Creek, Arizona.. Tôi luôn cò nguồn an ủi kỳ diệu từ Chim.. Con vật nhỏ từ đâu xa, nơi cao bay tới cho Người nụ cười bất chợt hân hoan và sức đương cự bền bỉ... -
Nhà văn Hoàng Ngọc Hiển, Chuyện 300 nghĩa sĩ Thái Nguyên
Nhà văn Hoàng Ngọc Hiển sinh năm 1942 và mất vào ngày 27-12-2014 tại Nam Cali. Ông là một giáo sư triết, văn chương và sử địa. Năm 1967, ông bị động viên (Khóa 25 Thủ Đức). Rời quân trường, ông chọn đại đội 399 tiểu khu Bình Long – đơn vị được xem là thiện chiến nhất và “dữ” nhất của tiểu khu, có mặt tại những hiểm địa tử thần như Lộc Ninh, An Lộc, quốc lộ 13…. . Ông ở đơn vị này cho đến khi miền Nam mất vào tay cộng sản và bị cầm tù suốt 14 năm sau đó.Diễn đàn saigonweeklyonline.com xin đăng tải một tài liệu về lịch sử của ông sau đây để tưởng nhớ một nhà văn dấn thân, yêu quê hương đất nước trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống và đã nhận tất cả mọi thiệt thòi như những người cùng thế hệ của ông trước vận mệnh không may của dân tộc. -
DUY LAM, NHỮNG CÁI TẾT XƯA
Ở cái đất Sàigòn mưa nắng hai mùa, thiên nhiên chẳng buồn hạ mình ban cho cái khối đông đảo Bắc kỳ di cư những dấu hiệu quen thuộc xưa cũ, hầu làm nức lòng những đứa trẻ chờ tiền mừng tuổi, hay nhắc nhở các bà nội trợ đã đến lúc chuẩn bị lá rong, lạt tre và gạo nếp thịt heo và củi đun để lại gói và nấu một nồi bánh chưng cho cả gia đình.Du hỏi mẹ tôi, sau khi ngán ngẩm ngắm các hàng cây bên kia đường đứng im phăng phắc trong cái nóng điên cái đầu của miền Nam dù vào những ngày cận Tết:- Mẹ à. Gió heo may là gió gì? Và bắt đầu thổi vào tháng nào? Cuối thu hay đầu đông? Mà tại sao lại có heo ở đây? Hay là cách nói trạnh ra của hiu hiu. -
Tưởng nhớ Nhà văn HOÀNG HẢI THỦY: Saigon, Đêm Ba Mươi
Một tang lớn cho văn học Việt Nam hải ngoại những ngày cuối năm 2020 là nhà văn, nhà báo Hoàng Hải Thuỷ đã qua đời ngày 6 Tháng Mười Hai, 2020, tại tiểu bang Virginia hưởng thọ 87 tuổi. Ông là một cộng tác viên lâu năm của hệ thống tuần báo Saigon Nhỏ do bà Hoàng Dược Thảo thành lập và điều hành từ năm 1985 đến 2016. Sau đây là một bài viết của ông đã được đăng trong Giai Phẩm Xuân Saigon Nhỏ 2009. -
Đọc TRẦN BÍCH SAN: PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN
Với chính sách chuyên chế, trong thời kỳ chiến tranh 1946 – 1954, giai đoạn 1954 - 1975 ở miền Bắc, và sau khi thống nhất đất nước 1975 - 1987, văn hóa, văn học, văn nghệ, trong đó có ngành phê bình văn học hoàn toàn bị kiểm soát và chỉ đạo bởi đảng CSVN . Đây là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn này được nhà văn Nguyễn Minh Châu mô tả “như một hành lang hẹp và thấp, xung quanh đầy những nghi ngờ, những lý luận và luật lệ văn học, trong đó nhà văn chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt đường lối, chính sách bằng hình tượng, tức là làm văn học minh họa... Những ai muốn sáng tạo, tìm tòi cái riêng thì cũng phải rào đón, che chắn, có cảm giác phạm tội. Kẻ làm văn học minh họa đã đánh mất cái đầu và tác phẩm, đánh mất tính tư tưởng mới mẻ, độc đáo hoặc chỉ còn cái đầu và tư tưởng được bao cấp!” Phê bình văn học trong giai đoạn này chỉ có một bên phê phán, một bên hứng chịu, không có sự hiện diện của tranh luận văn học. Từ 1987 đến nay, do đường lối đổi mới gọi là “cởi trói văn nghệ” , sinh hoạt phê bình văn học được nới lỏng một phần, nhưng ảnh hưởng của “chính trị hóa văn học” vẫn còn sâu đậm, cần một thời gian dài mới có hy vọng tẩy xóa được. -
Trúc Giang MN, Phong trào Thơ Mới và vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm
Dưới chế độ « Độc lập-Tự do-Hạnh phúc », văn nghệ sĩ bị khóa miệng, bắt đầu là việc đàn áp phong trào đòi tự do cho văn nghệ sĩ. Đó là phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm.Người trực tiếp đàn áp Nhân Văn –Giai Phẩm (NV-GP) là văn nô Tố Hữu. Tố Hữu được dịch nghĩa là: Tố là đấu tố. Hữu là bạn bè. Tố Hữu là một nhà thơ nhưng thẳng tay đàn áp đồng nghiệp làm thơ của mình.Tố Hữu được Trúc Giang xếp vào hạng « Đệ nhất thiên hạ nâng bi và bợ đít » hiếm có ở Việt Nam. -
Tiểu Tử: Made in Vietnam
Ông Lê vui vẻ cầm tách cà phê vừa nhâm nhi vừa nhìn quanh. Người Việt Nam đi đầy trong thương xá. Cung cách có hơi khác nhưng nói năng thì y hệt như ở bên nhà. Một vài tiếng chửi thề rớt rơi đâu đó, nghe rất tự nhiên. Bỗng ông quay sang hỏi tôi mà nghe như ổng tự hỏi ổng:- Không biết ở xứ Mỹ này, đồng hương lưu vong, có ai lâu lâu nhớ lại rằng mình "Made In VietNam ", không ?- Có chớ anh ! Nhưng cũng có người chẳng những không nhớ mà còn tự đóng cho mình con dấu " Made In USA " nữa, anh à. Thứ đó bây giờ thấy cũng nhiều !Tôi đưa tách lên môi uống ngụm cà phê cuối cùng, bỗng nghe cà phê sao mà thật đắng…
Kiều Mỹ Duyên, Lấy Lại Tên Sài Gòn
Đại lễ “Ngày Sài Gòn 2026” được tổ chức vào 10 giờ sáng chủ nhật, ngày 5/7/2026, tại tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster. Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đến từ Tân Tây Lan cùng 7 đoàn thể tổ chức đại lễ “Ngày Sài Gòn 2026” vào sáng chủ nhật ngày 5/7/2026, tại tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster. Đồng hương tham dự buổi lễ rất đông, gồm có: Hòa Thượng Thích Minh Tuyên (tăng thông đời thứ 3 của Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới), bác sĩ Võ Đình Hữu, chủ tịch các hội đoàn (Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đảng Nhân Bản Xã Hội, Họp Mặt Dân Chủ, Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại), chủ tịch Phục Hưng, ông Trần Quốc Bảo; chủ báo Thằng Mõ ở San Francisco, ông Huỳnh Lương Thiện; Ban Tù Ca Xuân Điềm; nhạc sĩ Trần Chí Phúc, ca sĩ Phong Dinh điều khiển chương trình; thị trưởng thành phố Westminster Charlie Nguyễn Mạnh Chí, phó thị trưởng kỹ sư Mark Nguyễn, v.v.
Tòa soạn
Do công ty Saigon News LLC thực hiện
Editor-in-chief: HOÀNG DƯỢC THẢO
Director of Marketing: ANDY TRƯƠNG
Với sự cộng tác của: LÊ TẤT ĐIỀU, HOÀNG NGỌC NGUYÊN, NGUYỄN THỊ CỎ MAY, TRẦN TRỌNG HẢI.
Email: saigonweeklyonline@gmail.com
Thư từ bài vở: 702-389-5729
Quảng cáo: 702-630-0234
Hotline: 702-426-4404