Trần Gia Phụng, Những Năm NGỌ trong Lịch Sử

Trần Gia Phụng

Những Năm NGỌ trong Lịch Sử

 

Giáp ngọ (207 TCN):  Nhân cơ hội Hán Sở tranh hùng, Triệu Đà chiếm quận Nam Hải, tự xưng vương tức Triệu Võ Vương, thành ập một nước độc ập à Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung năm 207 TCN (giáp ngọ).  Triệu Đà iền xua quân chiếm uôn các quận phía nam à Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và cử người sang cai trị năm 198 TCN (quý mão).

Canh ngọ (111 TCN):  Sau đó, tại Trung Hoa, ưu Bang ật đổ nhà Tần ên cầm quyền tức Hán Cao Tổ (trị vì 202-195), ập ra nhà Hán (202 TCN  - 220).  Năm canh ngọ (111 TCN) triều đình nhà Hán sai ộ Bác Đức (tước à Phục Ba tướng quân) đem quân đánh nhà Triệu, giết Triệu Dương Vương và thái phó ữ Gia, chiếm Nam Việt, rồi đổi Nam Việt thành Giao Chỉ bộ.  Đáng chú ý à bộ Giao Chỉ à một tên chung để chỉ một vùng rộng ớn gồm chín quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất âm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ mà trong đó, theo tác giả Ngô Thời Sỹ (thế kỷ thứ 18), chỉ có ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân,và Nhật Nam mới riêng hẳn à cổ Việt.  Phải chăng vì sự ầm ẫn giữa bộ Giao Chỉ và quận Giao Chỉ mà nhiều sử thuyết đã đưa Triệu Đà thành một triều đại của cổ Việt và cho rằng ãnh thổ cổ Việt à khu vực cai trị của Triệu Đà bao gồm cả vùng Quảng Châu (Trung Hoa) ngày nay?

Giáp ngọ (34):  Nhà Hán cử Tô Định sang àm thái thú Giao Chỉ.  Tô Định à nhà cai trị tham tàn độc ác àm cho dân chúng Giao Chỉ phẫn nộ, và Hai Bà Trưng đã đứng ên khởi nghĩa năm 40 (canh tý).

Mậu ngọ (178):  Tại Giao Chỉ,  ương ong khởi nghĩa, nổi ên đánh phá, vây hãm thành trì, gây khó khăn cho nhà cầm quyền Trung Hoa.

 Bính ngọ (226):  Thái thú Sĩ Nhiếp, một nhà cai trị rất được òng dân úc đó, từ trần năm bính ngọ (226), con à Sĩ Huy tự động ên thay.  úc bấy giờ ở bên Trung Hoa à thời Tam quốc (220-265).  Nhà Đông Ngô cử ữ Đại sang dẹp Sĩ Huy.

 Canh ngọ (550):  Trung Hoa đang diễn ra tình trạng Nam Bắc triều (420-588).  Năm canh ngọ (550), tại Nam triều, xảy ra cuộc nổi dậy của Hầu Cảnh.  Vua nhà ương phải gọi thứ sử Giao Châu à Trần Bá Tiên về giúp.  Trần Bá Tiên để Dương Sàn ở ại giữ Giao Châu.  Nhân cơ hội nầy, Triệu Quang Phục đánh giết được Dương Sàn, chiếm đóng thành ong Biên.

 Nhâm ngọ (622):  Năm 622 (nhâm ngọ), Đường Cao Tổ (trị vì 618-626) chia đất cổ Việt thành hai tổng quản phủ à Giao Châu tổng quản phủ  và Đức Châu tổng quản phủ.

 Canh ngọ (970):  Năm 968 (mậu thìn), Đinh Bộ ĩnh ên ngôi hoàng đế.  Sau nầy sử sách thường gọi ông à Đinh Tiên Hoàng (trị vì 968-979), tức à vị hoàng đế đầu tiên của nhà Đinh.  Ông đặt quốc hiệu à Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa ư  (vùng Ninh Bình ngày nay).  Năm canh ngọ (970), Đinh Tiên Hoàng ấy niên hiệu à Thái Bình.

 Nhâm ngọ (982):  Sau khi ên ngôi năm 980, ê Hoàn tức ê Đại Hành (trị vì 980-1005), gởi hai sứ giả à Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Chiêm Thành giao hảo.  Vua Chiêm à Paramecvaravarman ại bắt giam sứ giả.  Rất tức giận, nhưng vì bận đối phó với nhà Tống, ê Hoàn phải tạm gác chuyện nầy.  Sau khi đẩy ui quân Tống năm 981, ê Hoàn tự mình cầm quân sang đánh Chiêm Thành năm 982 (nhâm ngọ) vừa để trả mối quốc nhục bắt sứ, vừa để giải thoát các sứ giả do mình gởi đi.  ê  Hoàn đánh hạ kinh đô Đồng Dương (Indrapura, ngày nay thuộc vùng Quảng Nam), giết vua Chiêm, ấy nhiều vàng bạc, bảo vật đem về.  Vì sự cố tình gây hấn của Chiêm Thành khi bắt sứ giả, ê Hoàn đem quân trả đũa, và ông trở thành vị vua nước ta đầu tiên đi chinh phạt Chiêm Thành.  Cần chú ý à trong số tù hàng binh Chiêm Thành bị ê Hoàn bắt đem về nước Việt, có các tu sĩ Phật giáo và các nghệ sĩ ca múa cũng như các nghệ nhân kiến trúc.  Chính những người nầy đem ảnh hưởng của Chiêm Thành vào văn hóa Đại Cồ Việt.  Sau trận đánh nầy, một dòng họ khác ên àm vua ở Chiêm Thành, và năm 1000 đã dời đô từ Indrapura (Đồng Dương, vùng Quảng Nam ngày nay) xuống Vijaya (Đồ Bàn, vùng Bình Định ngày nay), để tránh xa ảnh hưởng của nước Việt đang ớn mạnh.

 Bính ngọ (1006):  Sau khi ên àm vua năm 1005, về nội trị, năm 1006 (bính ngọ) ê ong Đĩnh (trị vì 1005-1009) củng cố triều đình, đặt ại quan chế và triều phục theo kiểu mẫu của nhà Tống bên Trung Hoa.  Triều đình chia thành cửu phẩm.  Từ công khanh trở ên mặc áo màu tía; từ nhất nhị phẩm xuống ngũ phẩm mặc áo màu đỏ; ục và thất phẩm áo màu ục;  bát và cửu phẩm áo màu xanh.

 Nhâm ngọ (1042):  Năm nầy, dưới triều vua ý Thái Tông (trị vì 1028-1054), người Văn Châu (ạng Sơn) nổi dậy.  Nhà vua sai thái tử Nhật Tôn đem quân đi tiểu trừ.  Cũng trong năm nhâm ngọ (1042), ý Thái Tông ban hình thư, định ại uật ệ, theo đó vua cấm bán hoàng nam (thanh niên đã ghi tên vào sổ hộ bìa màu vàng của triều đình) trên 18 tuổi, phạt nặng những tội trộm cắp, cướp của và gian dâm.  Sau đó, nhà vua ra ệnh những người trên 70 tuổi, hoặc dưới 15 tuổi, hoặc tật nguyền hay họ thân với nhà vua được phép nộp tiền chuộc tội, trừ những ai phạm vào tội thập ác.

 Giáp ngọ (1054):  Thái Tông từ trần năm 1054, thái tử Nhật Tôn ên thay tức ý Thánh Tông (trị vì 1054-1072).  Có ẽ nhận thấy tổ chức chính quyền nước ta đã vững vàng và khá mạnh, nên vừa ên ngôi, ý Thánh Tông đổi quốc hiệu từ Đại Cồ Việt (đặt ra từ thời Đinh Tiên Hoàng) sang Đại Việt.

 Bính ngọ (1066):  ý Thánh Tông ớn tuổi mà chưa có con nối dòng, trên đường đi cầu tự, gặp một phụ nữ đứng tựa khóm dâu, đón về cung đặt tên à Ỷ an.  Năm 1066 (bính ngọ), Thánh Tông mới có con trai với bà Ỷ an, đặt tên à Càn Đức, và đưa ên àm thái tử.  Thái tử Càn Đức ên thế vua cha năm 1072 tức ý Nhân Tông (trị vì 1072-1127).

 Mậu ngọ (1078):  Vừa đẩy ui được quân Tống năm 1077, triều đình nhà ý iền cho sửa ại thành Thăng ong.  Thành nầy được xây bằng đất ần đầu vào năm 1014 dưới thời ý Thái Tổ.

 Canh ngọ (1150):  Năm nầy, người Chân ạp (Chen-a tức Cambodia) tấn công bằng đường bộ, xâm nhập đến núi Vụ Thấp, ở Nghệ An, thì bị chướng khí khiến nhiều người chết, phải rút ui. 

 Canh ngọ (1210): ý Cao Tông từ trần vào tháng 10 năm canh ngọ (1210), hưởng dương 38 tuổi, ở ngôi được 35 năm.  Thái tử Sảm theo di chiếu ên nối ngôi tức ý Huệ Tông, mới 17 tuổi (tuổi ta), tôn mẹ à Đàm thị  ên àm hoàng thái hậu, cùng nhà vua o việc chính sự.

 Giáp ngọ (1234):  Tháng 12 năm ất dậu (đầu 1226), Trần Cảnh được vợ à ý Chiêu Hoàng nhường ngôi, ên àm vua tức Trần Thái Tông (1226-1258), ập ra nhà Trần (1226-1400).  úc đó vua còn trẻ, nên cha à Trần Thừa xưng à thượng hoàng bính tuất (1226), thay vua giữ chính quyền trong nước.  Năm giáp ngọ (1234), thượng hoàng Trần Thừa từ trần. 

 Bính ngọ (1246):  Trong năm nầy, triều đình quy định 7 năm một ần mở khoa thi đại tỵ (tức thi Thái học sinh hay tiến sĩ).  Đây à ần đầu tiên trong ịch sử, triều đình định niên hạn về các kỳ thi tuyển trong nước.  Cũng trong năm bính ngọ (1246), triều đình định ại danh hiệu quân đội, chia thành 3 hiệu à Thiên thuộc, Thánh dực, và Thần sách.  Mỗi hiệu chia àm 4 vệ nên gọi à Tứ thiên, Tứ thánh, Tứ thần.  Quân đội càng ngày càng mạnh nhờ nhà Trần khuyến khích các hoàng thân tuyển ựa và huấn uyện thân binh.

 Mậu ngọ (1258):  Sau khi đánh đuổi quân Mông Cổ sang xâm ăng nước ta ần thứ nhất vào tháng 12 năm đinh tỵ (qua năm 1258), Thái Tông theo phép cũ của Trần Thừa, quyết định nhường ngôi cho con à thái tử Hoảng và ên àm thượng hoàng, để hướng dẫn vua mới o việc cai trị. Thái tử  Hoảng ên ngôi năm mậu ngọ (1258) tức vua Trần Thánh Tông (trị vì 1258-1278).

 Nhâm ngọ (1282):  Tình hình bang giao giữa nước ta với Trung Hoa càng ngày càng căng thẳng vì tham vọng của nhà Nguyên.  Biết trước chiến tranh không thể tránh khỏi, Trần Nhân Tông (trị vì 1279-1293)  họp các vương hầu và tướng ãnh ở Bình Than tháng 10 năm nhâm ngọ (1282) để định kế chống Nguyên.  Bình Than à bến sông nằm ở đoạn sông ục Đầu chảy qua huyện Chí inh (Hải Dương).  Tại hội nghị nầy, tương truyền rằng Trần Quốc Toản không được tham dự vì còn trẻ; ông tức giận, bóp nát trái cam cầm trong tay mà không hay.  Trần Quốc Toản iền tự mình mộ quân, đóng thuyền, viết ên cờ 6 chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân”.[Phá giặc mạnh, đền ơn vua].

 Giáp ngọ (1294):  Sau ba ần chiến thắng quân Nguyên, vua Trần Nhân Tông cử sứ giả sang Nguyên để bình thường hóa bang giao.   Năm 1293, Trần Anh Tông (trị vì 1293-1314) ên nối ngôi Trần Nhân Tông. Nhà Nguyên sai sứ sang yêu cầu vua nhà Trần phải đích thân sang Trung Hoa triều cống, nhưng Trần Anh Tông cương quyết từ chối.  Vua Nguyên iền dựa vào ý do nầy, cử tướng ưu Quốc Kiệt dẫn ực ượng tiến sang Đại Việt, nhưng giữa úc đó Nguyên Thế Tổ từ trần ngày 18-2-1294 (giáp ngọ), nên nhà Nguyên bãi binh.  Cháu nội của Nguyên Thế Tổ ên kế vị tức Nguyên Thành Tông (trị vì  1294-1307).

 Bính ngọ (1306):  Giao ngôi vua ại cho con năm 1293 rồi ên àm thái thượng hoàng, Trần Nhân Tông qua thăm Chiêm Thành à nước đã iên minh với Đại Việt chống quân Nguyên.  Vua Chiêm Thành úc bấy giờ à  Chế Mân (Jaya Simhavarman III, trị vì 1288-1307).  Chế Mân nguyên à thái tử Bổ Đích (Harijit), con đầu của vua Indravarman V (trị vì 1257-1288).  Thời kháng Nguyên, vua Indravarman V đã già, Bổ Đích nắm trọng trách điều khiển việc nước, và đã chỉ huy quân Chiêm đẩy ui ực ượng của Toa Đô.  Trần Nhân Tông hứa gả con mình à công chúa Huyền Trân cho Chế Mân.  Chế Mân quyết định tặng hai châu Ô và Rí (ý) ở phía bắc Chiêm Thành àm sính ễ và ễ cưới diễn ra năm 1306 (bính ngọ).  Huyền Trân được vua Chế Mân phong tước hoàng hậu Paramecvari.  Năm 1307 (đinh mùi), vua Trần Anh Tông đổi châu Ô thành Thuận Châu, châu ý thành Hóa Châu.  úc đó, Hoá Châu kéo dài qua phía nam đèo Hải Vân, xuống tới Điện Bàn và bắc Duy Xuyên ngày nay.  Như thế biên giới mới giữa Đại Việt và Chiêm Thành à sông Thu Bồn ngày nay.

 Mậu ngọ (1318):  Đám cưới được một năm, quốc vương Chế Mân từ trần (1307).  Vua Trần Anh Tông thương em (công chúa Huyền Trân), cho tướng Trần Khắc Chung sang Chiêm Thành ấy cớ viếng tang, rồi ập mưu đưa Huyền Trân trở về Đại Việt.  Sự kiện nầy àm cho sự bang giao Việt Chiêm căng thẳng trở ại từ đây.  Vua Chiêm Thành à Chế Năng muốn xua quân tái chiếm châu Ô và châu ý.  Năm 1318 (mậu ngọ), Trần Minh Tông (trị vì 1314-1329) cử  Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chấn cùng Phạm Ngũ ão đem quân viễn chinh.  Phạm Ngũ ão đánh tan quân Chế Năng,  Chế Năng phải bỏ trốn sang Java (Indonesia).  Trần Quốc Chấn đặt Chế A Nan ên àm Hiệu thánh Á vương Chiêm Thành rồi rút quân về.

 Mậu ngọ (1378):  Năm nầy, vào mùa hạ, người Chiêm Thành đưa Ngự Câu Vương Húc (con của Nghệ Tông), người đã đầu hàng Chiêm Thành năm trước, về cướp phủ Nghệ An, xưng vị hiệu để chiêu dụ dân chúng.  Quân Chiêm tiến ra sông Đại Hoàng (Gia Viễn, Ninh Bình), đánh Thăng ong ần nữa.  Quan an phủ sứ ê Giốc, gốc người Thanh Hóa, bị người Chiêm bắt.  Người Chiêm buộc ê Giốc phải ạy họ mới tha sống.  ê Giốc trả ời: “Ta à quan một nước ớn, sao phải ạy chúng mày.”(25)  Quân Chiêm tức giận, giết chết ê Giốc.  Khi người Chiêm rút đi, vua Trần Phế Đế ( trị vì 1377-1388) nghe được việc nầy, iền truy tặng ê Giốc à Mạ tặc Trung Vũ Hầu (hầu tước Trung vũ mắng giặc), và phong thưởng cho con của ê Giốc.

 Canh ngọ (1390):  Từ khi Chế Bồng Nga (Pô Bin Swơr, trị vì 1360-1390) ên àm vua Chiêm Thành, ông thường đem quân đánh phá Đại Việt, và đã ba ần tấn công kinh đô Thăng ong.  Tháng giêng năm canh ngọ (1390), Chế Bồng Nga trên đường hành quân đánh Đại Việt, bị một thuộc quan à Ba ậu Kê àm phản, chỉ thuyền của Chế Bồng Nga đang đi.  Tướng nhà Trần à Trần Khát Chân ra ệnh dùng súng bắn, Chế Bồng Nga tử trận, quân Chiêm thua chạy. 

 Nhâm ngọ (1402):  Năm 1402 (nhâm ngọ), Hồ Hán Thương (trị vì 1401-1407) sai Đỗ Mãn cầm quân đánh Chiêm Thành ần nữa.  Vua Chiêm à Ba Đích ại cử cậu à Bố Điền xin nhường đất Chiêm Động (Thăng Bình, Quảng Nam ngày nay) để cầu hòa.  Thượng hoàng Hồ Quý y không chịu, đòi thêm đất Cổ ũy (Tư Nghĩa, Quảng Ngãi ngày nay).  Vua Chiêm chấp thuận.  Nhà Hồ ấy đất Chiêm Động và Cổ ũy chia thành 4 châu Thăng, Hoa, Tư, và Nghĩa, đặt chức an phủ sứ ộ Thăng Hoa để cai trị, cho dời dân vào khai khẩn sinh sống.  Miền núi non thượng nguồn của vùng nầy được gọi à trấn Tân Ninh. Trước đây, khi vua Chiêm Thành à Chế Bồng Nga tử trận năm 1390, con à Chế Ma Nô Đã Nan bị cướp ngôi.  Chế Ma Nô Đã Nan phải chạy sang Đại Việt tỵ nạn, nay được Hồ Hán Thương cử àm Cổ ũy Thượng Hầu, và giao cai quản hai châu Tư và Nghĩa để chiêu tập khuyến dụ người Chiêm.

 Giáp ngọ (1414):  Trùng Quang Đế Trần Quý Khoách nổi ên khởi nghĩa chống quân Minh năm kỷ sửu (1409).  Ông bị quân Minh đánh bắt tháng 12 năm quý tỵ (qua năm 1413), và bị giải về Trung Hoa tháng 4 năm giáp ngọ (1414).  Trên đường đi, Trùng Quang Đế nhảy xuống sông tự tử. 

 Bính ngọ (1426):  Năm nầy đánh dấu cuộc tổng phản công toàn diện của ê ợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.  Tổng tư ệnh quân viễn chinh nhà Minh à Vương Thông phải ui về cố thủ Đông Quan (Thăng ong).  Bị nghĩa quân vây hãm, Vương Thông xin cầu hòa, nhưng ại cho người ẻn đưa thư về Trung Hoa cầu cứu.  Để chuẩn bị thương thuyết với quân Minh, tháng 11 năm nầy, ê ợi đón Hồ Ông, thổ quan châu Ngọc Ma (Nghệ An), tự xưng à cháu của Trần Nghệ Tông (trị vì 1370-1372), đổi tên à Trần Cao, rồi đưa ên àm vua.  ê ợi ấy danh nghĩa họ Trần, dùng Trần Cao thương thuyết với quân Minh để sớm chấm dứt chiến tranh.

 Nhâm ngọ (1462)  Tháng 4 năm nay, vua ê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) định ại phép thi hương.  Tháng 8, ông ra ệnh giết thái uý ê ăng mà không có ý do rõ rệt, dầu ê ăng à người đã phò ê Thánh Tông ên àm vua trước đó hai năm.

 Canh ngọ (1510):  Sau khi đảo chánh giết ê Uy Mục (trị vì 1505-1509), Giản Tu Công ên àm vua ngày 4-12 kỷ tỵ (qua năm 1510) tức ê Tương Dực (trị vì 1510-1516), nhưng ấy năm canh ngọ (1515) à năm đầu của niên hiệu Hồng Thuận.  Đây à niên hiệu bắt đầu cuộc đại oạn trong ịch sử Việt vào thời Hậu ê.

 Nhâm ngọ (1522):  Nhận thấy Mạc Đăng Dung càng ngày càng chuyên quyền, vua ê Chiêu Tông (trị vì 1516-1522) muốn kiếm cách bắt Mạc Đăng Dung, nhưng thất bại.  Mạc Đăng Dung đưa người em của Chiêu Tông tên à Xuân ên àm vua à ê Cung Hoàng (trị vì 1522-1527).

 Bính ngọ (1546):  Hiến Tông Mạc Phúc Hải (trị vì 1540-1546) từ trần, con à Mạc Phúc Nguyên, mới 6 tuổi ên nối ngôi à Mạc Tuyên Tông (trị vì 1546-1561).

 Mậu ngọ (1558):  Theo sự mách bảo của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (nghĩa à: Dãy Hoành Sơn à nơi dung thân âu dài), Nguyễn Hoàng nhờ chị à Ngọc Bảo xin anh rể à Trịnh Kiểm vào trấn thủ Thuận Hóa.  Tháng 10 năm mậu ngọ (1558), Nguyễn Hoàng úc đó 33 tuổi, dẫn đoàn tuỳ tùng từ Thanh Hóa đi đường biển vào cửa Việt, ngược sông Thạch Hãn, đóng dinh ở àng Ái Tử, huyện Vũ Xương ( nay thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). 

 Canh ngọ (1570):  Cuối năm kỷ tỵ (1569), Trịnh Kiểm đau nặng.  Mượn cớ thăm vua ê, Nguyễn Hoàng ra Thanh Hóa nhờ Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm thêm đất Quảng Nam cho mình.  Trịnh Kiểm đồng ý.  Nguyễn Hoàng về nam vào tháng giêng canh ngọ (1570), thống ãnh uôn đất Quảng Nam.  Trịnh Kiểm từ trần vào tháng 2 canh ngọ, giao quyền ại cho con trai trưởng à Trịnh Cối, nhưng Trịnh Cối bị em à Trịnh Tùng ật đổ.  Cuối năm nầy, tướng nhà Mạc à Mạc Kính Điển biết tình hình nội bộ họ Trịnh ủng củng, đem quân đánh Thanh Hóa.  Trịnh Cối iền xin hàng nhà Mạc.

 Giáp ngọ (1594):  Sau khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng ong năm 1592, con cháu nhà Mạc bỏ chạy khắp nước.  Năm giáp ngọ (1594), con của Mạc Kính Điển à Mạc Kính Cung tự ập àm vua ở ạng Sơn. Trịnh Tùng sai quân đi tiễu trừ.  Mạc Kính Cung và Mạc Ngọc iễn thua chạy qua ong Châu, Quảng Tây, Trung Hoa (giáp với ạng Sơn).  Trước khi từ trần năm 1594, Mạc Ngọc iễn để thư ại dặn vua Mạc Kính Cung: “...Họ ê ại trung hưng, đó à số trời.  Còn như dân ta à người vô tội, sao ại nỡ để cho dân mắc vào vòng mũi tên hòn đạn âu mãi như vậy!  Chúng ta nên ánh ở nước khác, cốt phải cẩn thận giữ gìn, đừng ại cố sức chiến đấu với họ nữa.  ại dứt khoát chớ có đón rước người Minh kéo sang nước ta để đến nỗi dân ta phải ầm than khốn khổ...”

 Canh ngọ (1630):  Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (cầm quyền ở Đàng Trong 1613-1635) ra ệnh đắp uỹ Trường Dục từ àng Trường Dục huyện Phong ộc (Quảng Bình) đến vùng Hạc Hải và ập dinh Bố Chính để bảo vệ miền Nam chống ại quân Trịnh ở phía bắc.

 Nhâm ngọ (1642):  Trong năm nầy, Thượng Vương Nguyễn Phúc an (cầm quyền ở Đàng Trong 1635-1648), cho thả thuỷ thủ hai tàu Hoà an gặp bão ở Cù ao Chàm.  Trên đường đi, những người nầy bị tàu Bồ Đào Nha tấn công và giết chết một số.  Công ty Đông Ấn Hòa an đổ ỗi cho chúa Nguyễn; năm sau cử người đến đánh, nhưng bị thua.

 Nhâm ngọ (1702):  Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (cầm quyền ở Đàng Trong 1691-1725) cử hai người Trung Hoa à Hoàng Thần và Hưng Triệt đem quốc thư và cống phẩm sang nhà Thanh xin phong vương,nhưng Thanh triều không chịu.  Cũng trong năm nầy, người Anh đến cướp phá và chiếm cứ đảo Côn ôn.  Quân Nguyễn nhờ người Mã ai àm nội ứng, đánh đuổi nhóm cướp nầy.

 Mậu ngọ (1738):  Ninh Vương Nguyễn Phúc Thụ (hay Trú, cầm quyền ở Đàng Trong 1725-1738) từ trần, con trai đầu à Nguyễn Phúc Khoát ên thay tức Võ Vương (cầm quyền ở Đàng Trong 1738-1765).

 Giáp ngọ (1774):  Năm nầy à một năm đại nạn cho chúa Nguyễn ở Đàng Trong.  Tại vùng Tây Sơn (Bình Định ngày nay), ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn ữ, Nguyễn Huệ nổi ên khởi nghĩa năm 1771, ấy thành Quy Nhơn năm 1773, chiếm Điện Bàn (Quảng Nam) vào đầu năm giáp ngọ (1774).  Ở Đàng Ngoài, được tin trong Nam xảy ra chiến tranh, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (cầm quyền ở Đàng Ngoài 1767-1782) nắm bắt ấy cơ hội thuận ợi nầy, gởi danh tướng Hoàng Ngũ Phúc đem ba vạn quân tiến vào nam năm giáp ngọ (1774), vượt sông Gianh, chiếm các ũy Trấn Ninh (Đồng Hới) và Trường Dục (ũy Thầy), vào Quảng Bình, qua Quảng Trị, đe dọa Phú Xuân tháng 12 năm giáp ngọ (đầu 1775).  Chúa Nguyễn à Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (cầm quyền ở Đàng Trong 1765-1777)  phải bỏ kinh thành chạy vào Quảng Nam rồi vào Nam.

 Bính ngọ (1786):  Biết được tình hình quân Trịnh ở Thuận Hóa chia rẽ, Thái Đức Đế Nguyễn Nhạc sai em à ong Nhương tướng quân Nguyễn Huệ cầm đại quân, với sự giúp sức của Nguyễn ữ (anh của Nguyễn Huệ), Võ Văn Nhậm (rể của Nguyễn Nhạc) và Nguyễn Hữu Chỉnh (tướng Trịnh mới hàng phục), tiến đánh Thuận Hóa.  Hạ xong thành Thuận Hóa, nghe theo ời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ tiến thẳng ra bắc, hạ thành Thăng ong, diệt họ Trịnh và tỏ ý phù ê.  úc đó, vua ê Hiển Tông (trị vì 1740-1786) già yếu từ trần ngày 17-7 năm bính ngọ.  Cháu nội của vua Hiển Tông à ê Duy Kỳ ên nối ngôi tức ê Chiêu Thống (trị vì 1786-1788).  Nguyễn Nhạc được tin em chiến thắng ở Thuận Hóa, rồi tiến thẳng ra Thăng ong, iền vội vã ra theo.  Ở ại Thăng ong chẳng bao âu, Nguyễn Nhạc cùng Nguyễn Huệ âm thầm rời kinh đô Bắc hà khuya 17-8 rút về Nam.  ê Chiêu Thống thiếu khả năng cai quản đất nước, nên con cháu họ Trịnh nổi ên trở ại.  ê Chiêu Thống gởi mật thư mời Nguyễn Hữu Chỉnh ra giúp.  Hữu Chỉnh ra Thăng ong diệt tiếp họ Trịnh, rồi cũng trở nên ộng quyền.

Vào cuối năm bính ngọ (1786), Nguyễn Nhạc chia ãnh thổ anh em Tây Sơn chiếm được àm ba phần: ông tự xưng à Trung ương hoàng đế, đóng ở Đồ Bàn, cai quản từ phía nam đèo Hải Vân vào đến Bình Thuận, phong cho Nguyễn ữ àm Đông Định Vương, giao cai quản đất Gia Định, và phong cho Nguyễn Huệ àm Bắc Bình Vương, giao cai quản xứ Thuận Hóa.  Sự phân chia nầy rõ ràng không xứng công của Nguyễn Huệ nên Nguyễn Huệ rất tức giận.  Đây à nguyên nhân chính đưa đến cảnh nồi da xáo thịt năm 1787 giữa anh em Tây Sơn.

 Mậu ngọ (1798):  Khi Nguyễn Nhạc từ trần năm 1793, vua Cảnh Thịnh (trị vì 1792-1802) nhà Tây Sơn được tin nầy, iền phong cho con của Nguyễn Nhạc à Nguyễn Bảo àm Hiếu Công, cho hưởng ộc huyện Phù y (Phù Cát), gọi à Tiểu triều, rồi đặt người cai trị Quy Nhơn.  Năm mậu ngọ (1798) Tiểu triều Nguyễn Bảo nổi ên tái chiếm Quy Nhơn, Phú Yên, và viết thư xin hàng Nguyễn Phúc Ánh.  Chúa Nguyễn iền gởi Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường đem quân ra tiếp ứng, nhưng chưa kịp đến nơi, thì Nguyễn Bảo đã bị quân củavua Cảnh Thịnh gởi vào bắt đưa về Phú Xuân giết. 

 Nhâm ngọ (1822):  Sau khi thống nhất đất nước năm 1802, vua Gia ong (trị vì 1802-1819) tổ chức ại chính quyền, o việc học hành, thi cử, nhưng dưới thời vua chưa mở khoa thi hội (tiến sĩ).  Khoa thi hội đầu tiên tại triều đình Huế tổ chức năm nhâm ngọ (1822) dưới triều vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840).

 Giáp ngọ (1834):  Dưới đời vua Minh Mạng, nhiều cuộc nổi oạn xảy ra.  Nồng Văn Vân nổi ên từ tháng 7 năm quý tỵ (1833) ở Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, ạng Sơn và hoạt động mạnh trong năm giáp ngọ (1834).  Triều đình cử nhiều cánh quân đánh dẹp nhưng mãi đến năm sau mới yên.  Về đối ngoại, trong năm nầy, quân Xiêm sang đánh Hà Tiên từ tháng giêng đến tháng năm thì bị đẩy ui.

 Mậu ngọ (1858):  Ngày 1-9-1858, Trung tướng Rigaut de Genouiy đem 3000 quân cùng 14 chiến thuyền Pháp và Y Pha Nho (Tây Ban Nha, Spain) vào cửa biển Đà Nẵng.  Triều đình iền sai đặc phái viên Đào Trí cùng với tổng đốc Nam Ngãi à Trần Hoằng đem quân chống giữ.  Khi Đào Trí đến nơi thì hai đồn An Hải và Tồn Hải ở Sơn Trà đã mất.  Triều đình gởi thêm hữu quân ê Đình ý àm tổng thống quân vụ, đưa 2.000 quân vào tăng cường.  Hai bên đụng trận ở xã Cẩm ệ (thuộc huyện Điện Bàn, nơi nổi tiếng về thuốc á Cẩm ệ).  ê Đình ý bị thương rồi qua đời.  Vua Tự Đức sai Nguyễn Tri Phương, đang àm Kinh ược sứ Nam Kỳ, ra thay àm tổng thống quân vụ, Chu Phúc Minh àm đề đốc cùng Đào Trí, giữ quyền tổng đốc Nam Ngãi thế Trần Hoằng, tổ chức chống giữ Đà Nẵng.  Công cuộc phòng thủ của Nguyễn Tri Phương àm cho Pháp úng túng.  Quân Pháp không chịu nổi khí hậu trên vùng cát duyên hải, ại bị bệnh dịch tả khiến nhiều binh sĩ mất mạng.  Genouiy iền quyết định giao hai đồn mới chiếm ở Đà Nẵng cho đại uý Toyon, ngày 2-2-1859 tự mình đem quân vào đánh Gia Định .

 Canh ngọ (1870):  Ngô Côn, dư đảng của Hồng Tú Toàn bên Trung Hoa, sang quấy phá các tỉnh biên giới phía Bắc.  Cuối năm canh ngọ, Ông Ích Khiêm đánh giết Ngô Côn ở Bắc Ninh.

 Nhâm ngọ (1882):  Ngày 25-4-1882, đại tá hải quân Pháp à Henri Rivière gởi tối hậu thư cho tổng đốc Hoàng Diệu úc 6g30 sáng và tấn công thành Hà Nội úc 8g15 sáng.  Hoàng Diệu và quân dân thành Hà Nội đã chiến đấu anh dũng, nhưng hỏa ực Pháp quá mạnh, nên cuối cùng thành đổ úc 11 giờ sáng.  Các quan văn võ bỏ chạy, Hoàng Diệu ra ệnh cho quân sĩ dưới quyền giải tán và tự chọn tương ai.  Còn ại một mình, ông vào võ miếu viết tờ di biểu trần tình ên vua Tự Đức (trị vì 1847-1883), rồi treo cổ ên cây ổi ớn tuẫn tiết.  Từ khi thành Thăng ong được chọn àm kinh đô năm 1010 cho đến nay, Hoàng Diệu à vị tướng ãnh duy nhất đã tuẫn tiết theo thành khi thành ọt vào tay địch quân.

 Giáp ngọ (1894):  Vào đầu năm nầy, Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế chấp nhận thương ượng với Pháp.  Trong thời gian tạm hòa, ông đã bí mật mua vũ khí và tăng cường các vị trí phòng thủ.  Cuộc chiến tái diễn vào tháng 5-1894.

 Bính ngọ (1906):  Vào đầu năm 1906 (bính ngọ), Phan Bội Châu từ Nhật Bản qua Hương Cảng đón Kỳ Ngoại Hầu Cường Để vừa ở trong nước thoát ra.  Hai ông ên Quảng Đông thăm ưu Vĩnh Phúc.  Tại đây, các ông gặp Phan Châu Trinh cũng vừa mới qua, rồi cả ba cùng đi Nhật Bản.  Để kỷ niệm việc Kỳ Ngoại Hầu Cường Để đến Yokohama vào năm bính ngọ (1906), trụ sở  của phong trào Đông Du tại đây được đặt tên à Bính Ngọ Hiên.  úc đầu, du học sinh được gởi theo học Chấn Võ Học Hiệu (trường mở mang truyền thống thượng võ) và Đông Á Đồng Văn Thư Viện (nhà sách cho Đông phương châu Á cùng văn tự, văn hóa).  Càng ngày sinh viên du học càng đông.    

Trong khi đó, cũng vào đầu năm 1906, Phan Châu Trinh ra Hà Nội gặp các ông ương Văn Can, Nguyễn Quyền, giúp các ông thành ập trường Đông Kinh Nghĩa Thục.  Phan Châu Trinh ên Yên Thế thăm Hoàng Hoa Thám nhờ sự hướng dẫn của Ông Ích Đường.  Phan Châu Trinh không đồng ý với  đường ối bạo động của Hoàng Hoa Thám, vì theo Phan Châu Trinh càng bạo động, người Pháp càng có ý do để đàn áp, trong khi người Việt Nam còn quá yếu kém so với sức mạnh quân sự của Pháp. Phan Châu Trinh tiếp tục đi sang Trung Hoa tìm gặp Phan Bội Châu, rồi cùng sang Nhật.  Tại Nhật, hai ông bàn thảo cách thức tranh đấu giành độc ập cho xứ sở, nhưng mỗi người một ý khác nhau.  Sau khi đi Nhật về, Phan Châu Trinh khẳng định ập trường của ông: “Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc khác có thể tính ần được.” Phan Châu Trinh à nhà hoạt động chính trị Việt Nam đầu tiên đề xướng thuyết dân quyền.  Phan Châu Trinh gởi cho viên Toàn Quyền Đông Dương úc bấy giờ à Pau Beau và viên Khâm Sứ Pháp ở Trung Kỳ à Fernand évecque một á thư đề ngày 15-8-1906, thường được gọi à “Đầu Pháp chính phủ thư”.  á thư nầy à hành động trực diện công khai tố cáo chính quyền Pháp thuộc tại Việt Nam.

 Mậu ngọ (1918):  Vào đầu năm nầy, Đồng minh bắt đầu thắng thế ở Âu Châu.  Đức thất bại phải ký kết hòa ước ngày 11-11-1918 chấm dứt thế chiến thứ nhất.  Tại Việt Nam, Pháp mở tại Hà Nội các Trường Cao Đẳng Nông âm ngày 21-3, Trường Sư Phạm Hà Nội ngày 21-8, Trường ycée Hà Nội (sáp nhập uôn cả Trường Trung Học Pau Bert) ngày 31-12-1918.  Đặc biệt ngày 9-11-1918, toàn quyền Đông Dương ra nghị định quy định: kể từ 1-3-1919, tất cả nam giới, từ 18 tuổi trở ên, đi ại trong phạm vi Đông Dương đều phải có thẻ căn cước có dán ảnh hoặc điểm chỉ 5 đầu ngón tay phải.

 Canh ngọ (1930):  Sự kiện đáng ghi nhớ nhất trong năm nầy à cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng.  VNQDĐ được thành ập tối 25 rạng 26-1927 tại Hà Nội do Nguyễn Thái Học àm đảng trưởng.  VNQDĐ tấn công Yên Bái, Hưng Hóa, âm Thao, Phụ Dực Thái Bình), và quấy rối Hà Nội tối 10 rạng 11-2-1930.  Ngày 15-2 VNQDĐ tấn công Vĩnh Bảo (Hải Dương).  Pháp phản ứng dữ dội, cho máy bay đốt cháy rụi àng Cổ Am, một căn cứ QDĐ, bắt các ãnh tụ quan trọng của QDĐ kể cả Nguyễn Thái Học, đưa ra Hội đồng Đề hình.  Sau một năm àm việc, các phiên tòa của Hội đồng Đề hình đã xét xử khoảng gần 1.000 đảng viên VNQDĐ, đưa đến 35 án tử hình, 145 khổ sai chung thân, đó à chưa kể những anh hùng đã hy sinh trong úc àm nhiệm vụ, đã tự sát hay bị tra tấn đến chết, không thể thống kê hết được, và cũng chưa kể những bản án 20 năm trở xuống, cùng với những bản án ưu đày đến các miền rừng thiêng nước độc hay ra hải đảo.  Nổi tiếng nhất trong số nầy à vụ 13 chiến sĩ VNQDĐ ên máy chém tại Yên Bái từ 5 giờ sáng 17-6-1930.  Trước khi chết, tất cả đều chỉ mới hô được hai tiếng “Việt Nam” thì bị đao phủ thủ giật máy chém hạ xuống chém rơi đầu.  Riêng Phó Đức Chính thì yêu cầu được nằm ngửa để xem ưỡi dao rớt xuống như thế nào.  Những bản án của hội đồng đề hình năm 1930 đã đưa thế hệ đầu tiên của VNQDĐ ên máy chém hoặc khổ sai biệt xứ, nhưng ngược ại àm sáng ngời gương hy sinh cao cả của Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông trong VNQDĐ.  Tuy cuộc tổng khởi nghĩa thất bại, nhưng những anh hùng QDĐ “Không thành công thì thành nhân”, nghĩa à các vị đã chấp nhận “sát thân thành nhân” (chịu chết để hoàn thành đạo àm người).

Một điều cần ghi nhận à trước ngày VNQDĐ khởi nghĩa, đảng Cộng Sản Đông Dương rải truyền đơn tố cáo VNQDĐ sắp tấn công Bắc Kỳ; cô Giang đưa cho Nguyễn Thái Học xem truyền đơn nầy, nhưng Nguyễn Thái Học “ấy òng quân tử đo bụng tiểu nhân”, không tin à những người cộng sản Việt Nam ại có thể àm hại công cuộc cách mạng của người Việt Nam như vậy được.

Cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã gây một tiếng vang rất ớn trên chính trường Pháp cũng như ở Việt Nam.  Tại Pháp, sinh viên và thợ thuyền tổ chức biểu tình chống đàn áp và tàn sát (massacre) tại Đông Dương, nổi bật nhất à cuộc mít tin trước điện Eysée (văn phòng tổng thống Pháp) của hơn 100 Việt kiều đưa đến việc Pháp trục xuất 19 du học sinh về nước trong đó có Tạ Thu Thâu (1905-1945), sau nầy à ãnh tụ nhóm a utte (Chiến đấu), Trần Văn Thạch (1903-1945), Nguyễn Văn Tạo (1908-1970), Trần Văn Giàu.  Một số tờ báo ở Nam Kỳ công khai ca ngợi sự can đảm của những nhà cách mạng như tờ Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn.  Nguyễn Thái Học bị Pháp bắt ngày 20-2-1930 và đang khi Pháp sửa soạn đưa ông ra trước hội đồng đề hình thì ngày 6-3-1930, Phụ Nữ Tân Văn đăng một bài giới thiệu sự nghiệp của Nguyễn Thái Học.

Từ hào khí cuộc khởi nghĩa Yên Bái tháng 2 năm 1930, sau đó xảy ra các cuộc biểu tình tại Vinh, Bến Thủy (Nghệ An) ngày 1-5-1930  mà cộng sản thường gọi à biến cố Xô Viết Nghệ Tĩnh.  Gần đây, tác giả Nguyễn Minh Cần, một cựu đảng viên đảng Cộng Sản, cho biết trong sách Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào Cộng Sản Quốc Tế, Nxb Tuổi Xanh, Caifornia, 2001, tt. 74-78, rằng “Xô viết Nghệ Tĩnh” chỉ à một cuộc nổi dậy của nông dân chứ không có tổ chức “xô viết” của cộng sản như à ời Hồ Chí Minh báo cáo với Quốc tế Cộng sản để ấy điểm ập công.

 Nhâm ngọ (1942):  Trong năm nầy có hai sự kiện quan trọng:  Thứ nhất: ngày 12-5-1942, ông Thái Văn Toản (1885-1952) xin về hưu, ông Phạm Quỳnh (1892-1945) được đưa ên àm thượng thư bộ ại, đứng đầu triều thay ông Toản.  Ngoài Phạm Quỳnh, triều đình úc đó còn có Trần Thanh Đạt (bộ Học), Hồ Đắc Khải (bộ Hộ), Bùi Bằng Đoàn (bộ Hình), Ưng Uý (bộ Công và ễ), Trương Như Định (bộ Kinh tế).  Thứ hai: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (gọi tắt à Việt Cách) chính thức thành ập ngày 1-10-1942 tại iễu Châu để hợp nhất các đảng phái cách mạng Việt Nam ở Trung Hoa đứng đầu à Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Trần Báo, Nông Kính Du, Trương Trung Phụng.

 Giáp ngọ (1954):  Trong năm nầy diễn ra nhiều sự kiện quan trọng quyết định vận mạng tương ai Việt Nam.  Ngày 16-1-1954, Bửu ộc chính thức nhiệm chức thủ tướng Quốc Gia Việt Nam thay ông Nguyễn Văn Tâm.  Ngày 28-4 thủ tướng Joseph anie (Pháp, 1889-1975) và phó thủ tướng Nguyễn Trung Vinh (Quốc Gia Việt Nam, 1901 - ?) cùng ký kết thỏa hiệp “kiện toàn” (perfection) nền độc ập của Việt Nam.  Thỏa hiệp đã được thủ tướng hai nước chính thức công bố ngày 4-6-1954.  Việc trao trả độc ập hoàn toàn cho Việt Nam diễn ra quá trễ, không thể cứu vãn được tình hình đang càng ngày càng trầm trọng. 

Trong khi đó, ngày 26-2, ngoại trưởng Hoa Kỳ à Foster Dues (1888-1959) mời quốc trưởng Bảo Đại sang Hoa Kỳ, nói à để chửa bệnh gan.  Quốc trưởng Bảo Đại không qua Hoa Kỳ.  Ông sang Pháp ngày 10-4-1954 để vận động trước khi hội nghị Genève khai mạc.  Hội nghị ngũ cường Anh, Pháp, Hoa Kỳ, iên Xô, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa tại Genève chính thức khai mạc ngày 26-4-1954, một ngày bàn về Đông Dương, một ngày bàn về Việt Nam.  iên Xô đề nghị mở rộng những nước tham dự bằng cách mời thêm các phe âm chiến ở Việt Nam.  Ý kiến nầy được chấp thuận tại phiên họp ngày 2-5-1954.  Như thế, về vấn đề Đông Dương, sẽ có tất cả à 9 phái đoàn: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, iên Xô, CHNDTH, Quốc Gia Việt Nam, Việt Minh, ào và Cambodge (Cambodia). 

Việt Minh tấn công Điện Biên Phủ trong ba đợt, bắt đầu từ ngày 13-3-1954, chiếm căn cứ Béatrice ở đông bắc, rồi chiếm căn cứ Gabriee ở phía bắc (15-3).  Nửa tháng sau, Việt Minh đánh đợt thứ nhì từ ngày 30-3 đến 24-4.  Ngày 1-5, Việt Minh tấn công đợt chót và Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7-5-1954.  Sau thất bại Điện Biên Phủ, tại Pháp, chính phủ Joseph anie từ chức ngày 13-6-1954, và Pierre Mendès France (1907-1982), người Pháp gốc Do Thái, thuộc đảng Xã Hội Cấp Tiến (Sociaiste Radica) được mời ập chính phủ.  Điều trần trước quốc hội, Mendès-France tuyên bố sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn tuần ễ.  Nói cách khác, Mendès-France quyết định bỏ rơi Quốc Gia Việt Nam và bằng mọi giá ký kết hiệp ước đình chiến, rút quân Pháp ra khỏi Đông Dương.  Mendès-France chính thức nhậm chức ngày 21-6-1954.  Về phía Quốc Gia Việt Nam, với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, Ngô Đình Diệm (1901-1963) được quốc trưởng Bảo Đại cử àm thủ tướng.  Ông Diệm đã qua Âu châu năm 1950 rồi qua Hoa Kỳ hoạt động.  Ông Diệm chính thức nhậm chức ngày 7-7-1954 (ngày Song Thất), úc đó hội nghị Genève đã diễn ra được hơn hai tuần. 

Nóng òng chóng đi đến một giải pháp chính trị đúng theo ời hứa trước quốc hội, Mendès-France đích thân đến Genève để hội đàm với ngoại trưởng iên Xô à Mikhaiovich Mootov (1890-1986) ngày 10-7, và ngoại trưởng CHNDTH à Châu Ân ai (1898-1976) trong hai ngày 12 và 13-7.  Hai bên thỏa thuận giải pháp chia hai nước Việt Nam; Pháp đòi chia ở vĩ tuyến 18, Trung Hoa đề nghị vĩ tuyến 17.  Sau đó, khi Châu Ân ai gặp Phạm Văn Đồng (1906-2000), đại biểu của Việt Minh, ông Đồng đòi chia ở vĩ tuyến 16.  Đại biểu Quốc Gia Việt Nam à Trần Văn Đỗ (1904-1990) phản đối việc chia cắt đất nước bất cứ ở đâu.  Cuối cùng, sau những tranh cãi và mặc cả, hiệp ước đình chiến Genève về Việt Nam được soạn thảo xong ngày 20-7-1954.  Hiệp định nầy gồm 47 điều và một Phụ ục, chia hai Việt Nam ở sông Bến Hải (Quảng Trị, vĩ tuyến 17), chính quyền Quốc Gia Việt Nam ở phía nam và Việt Minh cộng sản ở phía bắc.

Tại miền Nam, Ngô Đình Diệm cải tổ chính phủ ngày 24-9-1954.  Ông phải o đối phó với những chống đối của các phe phái thân Pháp, và của các giáo phái, và nhất à giải quyết chỗ ở, công  ăn việc àm của hàng triệu người bỏ miền Bắc di cư vào Nam ánh nạn cộng sản.  Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa về tiếp thu Hà Nội tháng 10-1954.

Một sự kiện quốc tế quan trọng iên hệ đến Việt Nam à vào ngày 8-9-1954 Hiệp ước Hỗ tương Phòng thủ Đông Nam Á (Southeat Asia Coective Defence Treaty) được ký kết ngày 8-9-1954 tại Mania, thủ đô Phi uật Tân, từ đó ra đời Tổ chức iên phòng Đông Nam Á (Souteast Asia Treaty Organization viết tắt à SEATO), gồm các nước Úc, Tân Tây an, Hồi Quốc (Pakistan), Phi uật Tân, Thái an, Pháp, Hoa Kỳ, Anh.  Trong phụ bản của hiệp ước nầy, ba nước Việt Nam, ào, Cao Miên được iệt kê trong vùng ãnh thổ được bảo vệ.  Hoa Kỳ dựa vào văn bản hiệp ước nầy để minh chứng  sự ủng hộ của họ đối với các chế độ chống cộng ở Đông Nam Á.

 Bính ngọ (1966):  Trong khi ở ngoài Bắc, đảng ao Động mở cuộc thanh trừng các thành phần chống đối đường ối của ê Duẩn (1907-1986), ê Đức Thọ (? – 1990), tiến hành mạnh mẽ chiến tranh tại miền Nam, thì tại miền Nam, Mặt trận Giải phóng miền Nam, do cộng sản Bắc Việt chi phối, khuấy động khắp nơi, tấn công ở nông thôn, pháo kích và khủng bố ở thành phố.  Tình hình chính trị của Việt Nam Cộng Hòa năm nầy khá bất ổn.  Ngày 6-1-1966, Việt cộng dùng súng cối tấn công ần đầu tiên vào tiền đồn Khe Sanh ở Quảng Trị.  Từ ngày 6 đến 9-2-1966, chủ tịch Uỷ ban ãnh đạo Quốc gia (quốc trưởng) trung tướng Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) và chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương (thủ tướng) thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ gặp tổng thống Hoa Kỳ à yndon B. Johnson (1908-1973) tại Honouu.  Theo thông cáo chung của hội nghị nầy, Hoa Kỳ hứa sẽ giúp Việt Nam chống xâm ăng cộng sản, phát triển kinh tế, và xây dựng nền dân chủ.  Ngày 10-3, tướng Nguyễn Chánh Thi bị chính phủ cất chức tư ệnh Quân đoàn I và Vùng I Chiến thuật. Sau sự kiện nầy, Phật tử biểu tình ở Huế, Đà Nẵng, có sinh viên học sinh nhập cuộc.  Từ đây, những cuộc biểu tình xảy ra iên tục trên toàn quốc do các phe phái chính trị, các phong trào đòi hỏi hòa bình, và nhất à các giáo phái tổ chức.  Bàn thờ Phật cũng được đưa “xuống đường” tại các thành phố ớn ở miền Trung như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn vào tháng 6-1966.  Cao độ của các cuộc biểu tình nầy à cuộc đốt phá Phòng Thông tin Hoa Kỳ (U.S.I.S. = United States Information Services) tại Huế ngày 1-6-1966 trên đường ý Thường Kiệt.  Khi chính quyền địa phương ra ệnh cấm biểu tình và cấm hô hào chống Mỹ, đồng thời đàn áp những cuộc xuống đường, thì một số nhà ãnh đạo Phật giáo ở Huế chống đối bằng cách kêu gọi Phật tử đưa bàn thờ Phật xuống đường để cản trở ưu thông trong thành phố.  Phong trào đưa bàn thờ Phật xuống đường an đến cả Quảng Trị, Đà Nẵng và Quy Nhơn.  Trật tự tại Huế và các tỉnh miền Trung được vãn hồi vào cuối tháng 6-1966 sau khi chính phủ trung ương gởi Thủy quân ục chiến và Cảnh sát dã chiến tăng viện, và thẳng tay dẹp tan các cuộc rối oạn.  Sau sự kiện nầy, một số trí thức, thanh niên, sinh viên trốn ên rừng chạy theo cộng sản.  Tình hình chính trị ổn định ại dần dần với việc bầu cử Quốc hội ập hiến ngày 11-9-1966.  Quốc hội nầy sẽ soạn thảo một hiến pháp mới để thay thế hiến pháp cũ đã bị huỷ bỏ sau khi giới quân nhân ật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963.

 Mậu ngọ (1978)  Từ tháng 3-1978, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội giao cho Đỗ Mười cầm đầu cuộc “đánh tư sản” miền Nam ần thứ nhì.  ần nầy, đảng CS nhắm nhiều vào giới thương gia giàu có người Việt gốc Hoa, nhất à ở Chợ ớn.  Song hành với đợt đánh tư sản nầy, cũng à đợt đổi tiền ần thứ nhì từ tiền MTDTGPMNVN qua tiền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, một đồng mới tương đương với 500 đồng cũ, và có thể đổi tối đa à 500 đồng mới.  Cộng sản còn tổ chức vượt biên bán chính thức, giá cả tính bằng vàng và tuỳ theo địa phương.  Đa số những người đi trong đợt nầy à người Hoa.

ấy ý do nhà cầm quyền Hà Nội đối xử bất công với người Hoa, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) tuyên bố chấm dứt viện trợ kinh tế cho Hà nội ngày 3-7-1978, và rút đại sứ về nước ngày 16-7.  Từ đó hai bên tố cáo ẫn nhau vi phạm chủ quyền ãnh thổ.  Ngày 3-11-1978, tại Moscow, Cộng sản Việt Nam ký với iên Xô Hiệp ước 25 năm Hỗ tương và Phòng thủ, theo đó hai bên sẽ hợp tác để phát triển, và bảo đảm rằng khi một trong hai nước bị tấn công, thì nước còn ại sẽ hợp tác bảo vệ nước bị tấn công.  CHNDTH tuyên bố rằng hiệp ước nầy à mối đe dọa nền an ninh Đông Nam Á.  Ngày 15-12-1978, tổng thống Hoa Kỳ à James Ear (Jimmy) Carter tuyên bố Hoa Kỳ sẽ bình thường hóa bang giao với CHNDTH kể từ 1-1-1979, và do đó, Hoa Kỳ chấm dứt bang giao với Trung Hoa Dân Quốc (Đài oan) ở cấp bậc đại sứ.

Ngày 21-12-1978, quân đội cộng sản Việt Nam, do tướng ê Đức Anh chỉ huy, tấn công Cambodia (Căm Bốt, Cao Miên), ật đổ chính phủ Po Pot, thân CHNDTH, ngày 7-1-1979, thay thế bằng chính phủ Heng Samrim.  Cuộc xâm ăng nầy chẳng những để bành trướng quyền ực cộng sản Việt Nam và chuẩn bị tấn công Thái an, mà còn để tung các thanh niên miền Nam vào chiến trường đẵm máu, gây tang thương chết chóc, và àm tiêu hao bớt nhuệ khí của nhân dân và thanh niên miền nam, để giảm bớt sức chống đối của dân chúng miền Nam đối với chế độ cộng sản.  Cuộc xâm ăng tạo nên một trong những ý do để CHNDTH tấn cống Việt Nam ở biên giới miền Bắc ngày 17-2-1979.

  Canh ngọ (1990):  Sau khi bức tường Bá inh được mở ra ngày 31-12-1989, kể từ 1990, nhiều người Việt từ Đông Đức rời vùng cộng sản qua Tây Âu.  Trong năm nầy, Đông và Tây Đức thống nhất dưới chế độ tự do dân chủ Cộng Hòa iên Bang Đức.  Vì tình hình khối cộng sản Đông Âu sụp đổ và iên Xô chao đảo, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội o ngại, nên phải quay qua cầu thân trở ại với CHNDTH.  Tổng bí thư đảng CS Nguyễn Văn inh, cùng Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, bí mật sang CHNDTH thương thuyết vào tháng 9-1990.  Ngày 13-10-1990, ê Đức Thọ chết tại Hà Nội.  Thọ tên thật à Phan Đình Khải, vào Bộ chính trị đảng ao Động kiêm uỷ viên ban Bí thư Trung ương đảng năm 1960, trưởng phái đoàn của cộng sản Bắc Việt tại cuộc hòa đàm Paris, đưa đến hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam năm 1973.  Thọ à một nhân vật hiếu chiến và độc ác của đảng Cộng Sản Việt Nam.  Báo chí trong và ngoài nước khá sôi động vào gần cuối năm 1990 khi Bùi Tín, tên thật à Bùi Đường Ấm, đảng viên đảng Cộng Sản, đại tá quân đội, phó tổng biên tập báo Nhân Dân Hà Nội, khi sang công tác tại Paris, nhân sự sụp đổ của các nước Đông Âu, đã gởi “Bản kiến nghị của một công dân” về đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Hà Nội.  Bùi Tín bị cộng sản Hà Nội cất chức và khai trừ ra khỏi đảng.  Từ đây, Bùi Tín bắt đầu tiết ộ về một số chuyện bí mật ở trong nội bộ đảng Cộng Sản mà trước đó ít ai biết được.

 Nhâm ngọ (2002):  Ngày 13-7-2001, Hiệp ước Thương mại Việt Mỹ được ký kết tại Washington D.C. giữa một bên à đại diện nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan và đại sứ Hà Nội tại Hoa Kỳ à ê Văn Bàng, và một bên à đại diện Hoa Kỳ, bà Charene Barshefsky, Trưởng phòng Thương mại Hoa Kỳ và đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam à Peter Peterson.  Hiệp ước nầy được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua ngày 17-10-2001, và Quốc hội cộng sản Hà Nội thông qua ngày 28-11-2001.  Quốc trưởng mỗi nước đã ban hành ngay sau khi được quốc hội của nước mình phê chuẩn.  Bộ trưởng Thương mại Hà Nội, ông Vũ Khoan, lại đến Washington D.C. để trao đổi văn kiện với Đại diện Thương mại Hoa Kỳ à Robert Zoeick vào úc 3 giờ chiều ngày 10-12, giờ Washington (3 giờ sáng ngày 11-12 giờ Hà Nội).  Kể từ giờ nầy, bản Hiệp ước Thương mại Việt Mỹ chính thức có hiệu ực, có nghĩa à từ năm nhâm ngọ sắp tới (2002), Việt Nam sẽ được Hoa Kỳ cho hưởng quy chế thương mại bình thường, và ngược ại, Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường cho thương giới Hoa Kỳ.  Theo đánh giá chung, hiệp ước nầy sẽ giúp Việt Nam phát triển kinh tế, hòa nhập vào đời sống kinh tế thị trường trên thế giới, và ngược ại Việt Nam phải chấp nhận quy uật sinh hoạt dân chủ trong thương trường, mở rộng khu vực kinh tế tư nhân, nhưng với tình trạng đàn áp nhân quyền và tôn giáo đang diễn ra tại Việt Nam, với quan niệm kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, iệu nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội có tôn trọng những điều đã cam kết trong hiệp ước và sẽ chịu chấp nhận mở rộng tới đâu?  Cần chú ý à đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống không tôn trọng những hiệp ước do chính họ đã ký kết, ví dụ hiệp ước Genève năm 1954 và hiệp ước Paris năm 1973. 

Canh Ngọ (2014) tình hình Việt Nam và thế giới trong may năm gần đây có nhiều biến động. Tại Việt Nam phong trào đòi bỏ điều 4 Hiến Pháp, bỏ chế độ Cộng Sản để chuyển qua chế độ dân chủ, đa nguyên…Giới trẻ dấn thân tranh đấu cho tự do tôn giáo, dân chủ, công lý và sự thực, chống Trung Cộng xâm lược. Sự kiện 72 nhà trí thức khoa bảng đã từng là đảng viên kỳ cựu ký tên kêu gọi thực hiện dân chủ, bỏ điểu 4 Hiến Pháp. Hàng trăm nhà trí thức khác lên tiếng ủng hộ và ký tên đời bỏ điều 4 HP. Hội đồng Giám Mục VN đã góp ý đòi bỏ điều 4 HP, đòi thực hiện tự do dân chủ cho dân. Dân oan tranh đấu đòi nhà, đòi đất. Sự ra đời của “Diễn Đàn Dân Sư” công khai nói lên những sai lầm của Đảng CS và kêu gọi chuyển hướng qua chế độ dân chủ. Các nước trên thế giới có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế, thương mại với VN cũng lên tiếng khuyên VN từ bỏ chế độ độc tài, chuyển hướng qua chế độ dân chủ…Việc công an đàn áp, đánh đập, bắt người trái phép, xúc phạm tượng ảnh,  ngăn cản sinh hoạt tôn giáo tại Mỹ Yên (giáo phận Vinh) đã làm cho bùng nổ một cuộc tranh đấu trên toàn giáo phận sở tại, được các Giám Mục các giáo phận khác lên tiếng bênh vực, dư luận thế giới lên tiếng phản đối nhà cầm quyền CSVN…Nếu CSVN cương quyết chủ trương độc tài, độc đảng, chủ trương tiêu diệt tôn giáo và lệ thuộc vào Trung Cộng thì giữa hai phe Quốc Cộng sẽ không bao giờ có thể hòa giải để ngồi lại với nhau. Tương lai đất nước đang chờ đợi một biến cố lớn thay đổi số mệnh của đất nước VN…Hy vọng năm Bính Ngọ 2026 sẽ là năm “mã đáo thành công”.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto)  

 

 

 

 

NGÔ THẾ VINH, Phân Tích Ảnh Hưởng Xung Đột Biên Giới Thái Lan – Cam Bốt
Chíu Thích Hình: Tướng Nattaphon Narkphanit, Bộ trưởng Quốc phòng Thái Lan (bên phải), bắt tay người đồng cấp Cam Bốt là Tướng Tea Seiha sau khi ký tuyên bố chung trong cuộc họp của Ủy ban Biên giới Chung Thái Lan– Cam Bốt (GBC) tại cửa khẩu biên giới thường trực Ban Phak Khat, tỉnh Chanthaburi, vào thứ Bảy 27.12.2025. (Ảnh: Facebook Army Military Force)
Tòa soạn
Do công ty Saigon News LLC thực hiện
Editor-in-chief: HOÀNG DƯỢC THẢO
Director of Marketing: ANDY TRƯƠNG
Với sự cộng tác của: LÊ TẤT ĐIỀU, HOÀNG NGỌC NGUYÊN, NGUYỄN THỊ CỎ MAY, TRẦN TRỌNG HẢI.

Email: saigonweeklyonline@gmail.com

Thư từ bài vở: 702-389-5729

Quảng cáo: 702-630-0234

702-426-4404

Hotline: 702-426-4404

back top