Nguyễn Vy Khanh
Thơ LƯU NGUYỄN

Nhà thơ Lưu Nguyễn
(1947-2026)
Vô cùng thương tiếc nhà thơ Lưu Nguyễn vừa ra đi, tại Montréal, theo như tin anh Luân Hoán thông báo hôm nay. Cầu chúc anh vui hưởng hạnh phúc nơi cõi Niết bàn. Xin chia buồn cùng gia-đình.
Đàn anh của tôi ở Đại học Văn khoa và Sư phạm, đến Montreal xứ người mới biết và một thời cùng sinh hoạt cộng-đồng, văn nghệ và gia-đình cựu giáo chức. Tìm lại hình ảnh thì còn giữ vài tấm…
Để tưởng nhớ nhà thơ, xin đăng lại phần chúng tôi viết về Lưu Nguyễn trong bộ Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Trung (Toronto: Nguyễn, 2025).
*
Nhà thơ tên thật Nguyễn Thế Nghiệp (5-8-1947, Quế Sơn, Quảng Nam), tốt nghiệp Đại học Văn Khoa và Đại học Sư phạm Sài Gòn, sau 1975 bị tù “cải tạo”. Năm 1980 làm thuyền nhân sang Canada và đã liên tục đấu tranh, từ nhóm Vượt Biển xuất-bản báo cùng tên từ 1982-89 rồi Nắng Mới 1995, với những Vũ Ngọc Hiến, Bắc Phong, … là những người dứt khoát không chấp nhận thỏa hiệp, “hợp tác”!
Lưu Nguyễn con người đơn sơ cũng như thơ ca đan thanh, nhưng tâm hồn và nhiệt huyết thì một thời sôi nóng, cho đến nay đã đóng góp với đời ba thi tập Tri Âm (Sông Thu, 1990), Ngày Qua Rất Vội (Montréal: Nắng Mới, 1993) và Trái Tim Người Biết Yêu (Nắng Mới, 2009) gồm những áng thơ về tình bạn, tình yêu, về những tà áo dài tha thướt, những khuôn mặt diễm lệ, của một thời học trò và làm thầy rồi thân phận lưu vong, tâm tư hướng về quê nhà – một quê nhà đang bị bạo quyền chiếm đóng và người dân đang sống lầm than.
Thi Tập Thứ Nhất: TRI ÂM
Lưu Nguyễn nhận chân làm thân lưu xứ không dễ:
“sao ta bỗng chốc điên cuồng
bỗng say ngây ngất, bỗng buồn rứt ray
xứ người tay vẫn trắng tay
ngày qua ngày lại kéo cày nuôi thân
nuôi cho mập cái si sân
một đời như thể phù vân mây trời”.
(Si Sân, Tri Âm, tr. 84)
Trong khi bạn bè đang chìm đắm trong nghịch cảnh. Ông Gửi Bạn Bè Còn Ở Lại với những lo toan cho bạn hữu với niềm vui, hy vọng:
“… ta với nó vẫn trên cùng đất nước
mà mấy năm không gặp gỡ một lần
từng cánh thư đi, từng cánh thư về, bao lần hẹn ước
khói lửa chiến trường cuốn hút nỗi chờ mong
rồi đất nước trong nỗi sầu tang tóc
tháng tư nhục nhằn, một chín bảy lăm
nó nhìn ta đôi mắt buồn muốn khóc
trước mũi súng thù hai đứa vẫn lặng câm (…)
giờ ta ở bên này trái đất
sống tủi hờn một kiếp nhục đào vong
nghe tin nó đã thoát vòng tù ngục
chọn con đường chiến đấu diệt thù chung (…)
(Tri Âm, tr. 8,9)
Nơi đây, phố phường xa lạ, của người. Đi giữa đám đông xa lạ mà nhớ về Hội An, Những Mùa Xuân Tuổi Nhỏ:
“bạn bè xưa giờ đâu vắng cả
thằng đi cải tạo, thằng bôn đào
ta ngơ ngác giữa phố phường tàn tạ
đêm mịt mờ ta đứng đếm trời sao
thôi tạm biệt Hội An
những mùa xuân tuổi nhỏ
thôi tạm biệt Hội An
thành phố buồn bỏ ngỏ
ta cúi đầu lặng bước nỗi mênh mang” (Tri Âm, tr. 44)
Ở Lưu Nguyễn còn tình yêu và những kỷ niệm đẹp, tình tứ, từ chốn nhà trường:
“vẫn có chút ngập ngừng trong ánh mắt
tay run run rượu sánh đổ tràn ly
trong hạnh phúc giữa đất trời quay quắt
thẹn thùng em khép bờ mi.
muốn là gió len qua vài sợi tóc
nhè nhẹ mơn man phiến má hồng
mỗi bận vui tan em có khóc
hong khô những giọt lệ nồng”
(Bài Thơ Cho Em, Tri Âm, tr. 54)
Hay “mai em ở lại trường làm thầy dạy học
mai anh về như thể về không” (Như Thể Về Không, Tri Âm, tr. 46).
Những giấc mộng lớn và nhỏ của năm xưa như đang dậm chân, khó bước – khác với hoài bão, tâm nguyện:
“… xin hiểu cho ta bạn bè thương mến
muốn rất nhiều nhưng sức chẳng bao nhiêu
có nắng sớm mai, có gió ban chiều
có kẻ ở, có người đi, có dùng dằng nửa đi nửa ở
xin đừng trách ta bạn bè thương mến
hào khí năm xưa bay mất tự bao giờ
tiếng sáo Cao Tiệm Ly vẫn chờ đưa tiễn
mà Kinh Kha mãi uống rượu ngâm thơ …
xin tạ lỗi cùng bạn bè thương mến
muốn rất nhiều nhưng sức chẳng bao nhiêu.”
(Bài Tạ Lỗi, Tri Âm, tr. 74-75)
Thi tập thứ hai, NGÀY QUA RẤT VỘI
NGÀY QUA RẤT VỘI, thi tập thứ hai, tiếp nối những ý tình, tâm sự và hoài bão của Tri Âm – những tình nước, tình bạn, tình riêng,… Nhưng đời sống đã khác và thời gian đi qua rất nhanh, khó níu kéo dù có bao thiện chí và lòng thành đi nữa. Trích Này Thanh Kiếm Gỗ:
“này thanh kiếm gỗ
sớm mai cưỡi ngựa vào rừng
vung thanh kiếm gỗ tưng bừng lá rơi
chém nhằm một cụm mồng tơi
trái vừa chín mọng tưởng rơi máu đào
chiều chiều luyện kiếm bên hồ
chém phăng mặt nước xôn xao vỡ trời
nào ngờ một đám bèo trôi
ngang qua vướng phải hỡi ơi kiếm sầu
khuya về cưỡi ngựa qua cầu
vung tràn kiếm gãy chém nhầu bóng trăng
lung linh đáy nước chị hằng
bên cành rong nhỏ kiếm văng mất rồi
buồn tình phi ngựa lên đồi
lấy tay làm kiếm rạch đôi sơn hà
tưởng chừng thiên hạ mình ta
vườn hoang mặc sức vào ra múa cuồng
giật mình tóc trắng như bông.
(Ngày Qua Rất Vội, tr. 12-13)
Đến TRÁI TIM NGƯỜI BIẾT YÊU, người đọc cảm nhận được những u hoài, tưởng tiếc trong thơ Lưu Nguyễn, như Khi Về Qua Trường Cũ:
“Ta trở lại trường xưa một chiều tháng chạp
hàng phượng im lìm ướt sũng buồn thiu
những tà áo bên hàng hiên gió tạt
văng vẳng tiếng cười khúc khích tuổi hoa niên.
Một thuở nọ sân trường em áo trắng
cặp sách trong tay rạng rỡ môi trầm
ta một thuở cũng sân trường áo trắng
mà tâm hồn như già cỗi trăm năm (…)
Nỗi nhớ đêm đêm râm ran cồn ngực
thôi thúc trở về chốn cũ ngày xưa
bỗng thấy mình ta một chiều tháng chạp
gã học trò già trước cổng trường xưa.
Trường lớp vẫn lớp trường xưa rêu phủ
bạn bè ta tan tác ở đâu rồi?” (tr. 12, 14)
Hoặc khi nhớ lại Quá Khứ:
“Quá khứ bốc hơi mùi ẩm mốc
nghe nhói đau từ tận tấc lòng
nỗi nhớ như đầu tên tẩm độc
ân huệ cuối đời chiến sĩ sang sông.
Thanh gươm rỉ ngày ngày đối bóng
rất ngại ngần kể lại chuyện xưa
thuở tuổi trẻ đứng đầu ngọn sóng
tiếng thét nào còn vọng những chiều mưa.
Ôi nỗi nhớ cũng là quá khứ
có vinh quang trên những nhục nhằn
có nước mắt bên lề cuộc lữ
có trận cười nhỏ máu trong tim.” (tr. 111-112)
Và một Lưu Nguyễn của chốn tĩnh, thiền:
“Khi im lặng người với ta là bạn
bỡi vô ngôn, tự nó đã nhiệm mầu
xin hãy nâng ly cùng ta uống cạn
chén đắng, chén sầu, kể cả chén say (…)
dẫu dã trăm năm, dẫu từ thiên cổ
cuộc rong chơi hồ dễ mấy ai từ
có chút ngại ngần trong từng nhịp thở
giọt nước mắt nào nhỏ xuống chiều nay.”
(Cuộc Rong Chơi, Tri Âm, tr. 30).
Nếu có Ngộ thì cũng theo cung cách của nhà thơ:
“luân hồi mấy kiếp rồi em
chênh vênh trần thế lạnh mênh mông bờ
Như Lai cũng khéo ỡm ờ
Sao không độ quách lại chờ ngộ chi.” (Tri Âm, tr. 31)

Nhà thơ Lưu Nguyễn (thứ hai từ trái sang) và những người bạn văn, năm 2023. Nguồn ảnh: Nguyễn Vy Khanh.
Về sau, Lưu Nguyễn thiên về cách tân lục-bát một cách nhẹ nhàng, như theo tâm cảm chứ không phá cách triệt để nên dễ tìm được đồng cảm:
“Vào chùa / kinh / kệ
ra đường thấy / gái / sắc không động lòng.”
(Sắc, Trái Tim Người Biết Yêu, tr. 118)
“Em từ / hoang dại về chơi
ta / từ / thiên cổ / luân hồi ghé qua
tình cờ / như hạt / mưa sa
phiêu du nghìn cõi / ta bà tịch liêu
Gặp nhau giữa chốn chợ chiều
không dưng / mà lại lắm điều thị phi
thà / rằng / chẳng gặp / có khi
em vui / ta cũng bớt đi / não phiền”
(Như Hạt Mưa Sa, Trái Tim Người Biết Yêu, tr. 108-109)
Gấp thi tập cuối, nhà thơ ghi lại những câu Đốt Đuốc Soi Chân của tập Ngày Qua Rất Vội:
“Ta về / đốt đuốc soi chân
ta về / đốt cái phù vân / soi người
trăm năm / một trận / khóc cười
vẽ nhăng mất nét
cho đời / soi chung”.
Phải chăng đấy đã là chuẩn đích cập nhật của thơ Lưu Nguyễn? Cùng cố xứ Quảng Nam như Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Hoàng Lộc, … , gia tài thơ Lưu Nguyễn có thể không bằng về lượng nhưng đã góp phần cho thi ca hải ngoại ở phần hiện thực thân phận lưu xứ và hoài bão cho tương lai đất nước và cội nguồn Việt Nam!